I. Tổng quan
Lách là cơ quan chứa mô bạch huyết và hệ liên võng nội mô lớn nhất cơ thể. Vì vậy, khảo sát lách là một phần không thể thiếu trong quy trình siêu âm bụng tổng quát, đặc biệt trong bối cảnh bệnh viện chuyên khoa huyết học.
Lách nằm cao ở ¼ ổ bụng trên trái, bị các cung sườn, khí trong ruột và mô phổi che lấp nên việc khảo sát trên siêu âm bị hạn chế một phần. Tuy nhiên, các bất thường trong lách thường hiện rõ do lách có hồi âm đồng nhất. Tương tự, những bất thường khác như tụ dịch quanh lách cũng phát hiện được dễ dàng.
II. Nhắc lại giải phẫu và sinh lý
1. Giải phẫu
Lách nằm giữa góc sườn hoành trái và thành bụng bên, tương ứng với vị trí các cung sườn 9,10,11 tại đường nách giữa ở ngoài bề mặt da. Trục dài của lách gần trùng với xương sườn 10. Lách thường được xem như hình tháp 3 mặt với mặt hoành hướng ra ngoài, cong lồi theo vòm hoành trái. Trong khi đó, mặt dạ dày (trước trong) áp vào đáy vị và mặt thận (sau trong) áp lên cực trên thận.
Lách được cấp máu bởi động mạch lách xuất phát từ động mạch thân tạng, đi dọc sau trên tụy để đến rốn lách rồi phân thành các nhánh nhỏ cấp máu cho nhu mô lách. Không có sự thông nối giữa các nhánh nhỏ của động mạch lách nên lách dễ nhồi máu nếu có sự tắc nghẽn xảy ra. Các tĩnh mạch nhỏ của lách hợp lưu tạo thành thân tĩnh mạch lách tại rốn lách, sau đó cùng với tĩnh mạch mạc treo tràng dưới và tĩnh mạch mạc treo tràng trên đổ vào tĩnh mạch cửa.
Lách được nâng đỡ bởi dây chằng lách- dạ dày ở mặt trước trong, hoành-lách ở phía sau- trong, còn dây chằng hoành- đại tràng không bám vào lách nhưng cũng góp phần nâng đỡ nó. Lách được bao phủ bởi phúc mạc tạng, trừ phần rốn lách, nơi cùng với đuôi tụy được che đậy bởi dây chằng lách- thận trái.
2. Sinh lý
Bao lách là tổ chức xơ và mô liên kết, tạo thành các bè đi vào nhu mô lách, phân chia lách thành nhiều khoang. Mỗi khoang chứa tủy đỏ và tủy trắng. Tủy trắng chứa mô và các nang lympho. Tủy đỏ gồm các tế bào võng và sợi liên võng tạo thành thừng Billroth bao quanh các xoang tĩnh mạch. Lách có chức năng bảo vệ cơ thể chống nhiễm trùng nhờ vào kháng thể và lympho bào tủy trắng, thanh lọc hồng cầu và đại thực bào ở xoang tĩnh mạch, tạo máu ở bào thai và cuối vùng là chức năng chuyển hóa hemoglobin- dự trữ sắt.
III. Kỹ thuật khảo sát
Hướng dẫn vị trí đặt đầu dò để khảo sát lách
Siêu âm lách không yêu cầu chuẩn bị bệnh nhân như nhịn ăn, nhịn tiểu. Mặt cắt vành hơi chếch ra sau hay còn gọi là mặt cắt dọc theo khoảng liên sườn 9-10 tại đường nách sau được sử dụng để khảo sát lách theo trục dọc. Xoay đầu dò 900 để tạo được mặt cắt lách theo trục ngang. Tại mỗi mặt cắt, sử dụng động tác quét và tịnh tiến để khảo sát toàn bộ lách. Quan sát lách theo hơi thở của người bệnh vì khi người bệnh hít vào vừa đủ, cơ hoành hạ xuống, đẩy lách ra khỏi bóng cản của các xương sườn. Thông thường, bệnh nhân được yêu cầu nằm ngửa. Tuy nhiên, trong điều kiện lý tưởng, bệnh nhân nên được cho nghiêng phải 45-900, tay trái giơ cao lên đầu.
IV. Hình ảnh siêu âm bình thường của lách
Lách có hình dạng trăng lưỡi liềm. Cơ hoành che phủ lách phía trên, sau và ngoài. Gan bình thường không chạm đến lách. Trong một số trường hợp, ví dụ khi gan to, gan trái lan rộng đến phía trước lách. Phình vị nằm phía trước-trong rốn lách, thường chứa khí hoặc dịch (sau khi người bệnh uống nhiều nước). Đuôi tụy nằm sát rốn lách và liên quan chặt chẽ với các mạch máu lách. Thận trái nằm phía trong, bên dưới lách.
Hồi âm tương đương hoặc tăng nhẹ so với gan, tăng hơn nhiều so với thận. Nhu mô lách bình thường đồng nhất, riêng phần gần rốn có cấu trúc ống mạch do có thành phần liên kết xơ quanh mạch máu. Không thể phân biệt tủy đỏ và tủy trắng trên siêu âm.
Chiều dài lách thường được đo trên mặt cắt dọc, tính từ cực trên đến cực dưới, bình thường nhỏ hơn 12cm. Bán kính tính từ rốn lách đến bờ ngoài của lách, thường không quá 4cm. Đường kính trước-sau đo trên mặt cắt theo trục ngang. Chỉ số lách (spleen index) được tính bằng cách nhân 3 số đo: chiều dài, bán kính và đường kính trước-sau với nhau. Nếu chỉ số này lớn hơn 480 được xem là bất thường.
Đo chiều dài của lách
V. Bất thường bẩm sinh của lách
1. Lách lạc chỗ
Trong quá trình phát triển phôi thai, cuống lách quá dài, hệ dây chằng không có chức năng nâng đỡ làm cho lách nằm ở vị trí thấp như hông hoặc hố chậu trái thay vì hạ sườn trái.
Lách lạc chỗ không có triệu chứng cơ năng, trừ khi bị xoắn do cuống lách quá dài. Lúc này, lách bị thiếu máu, hoại tử, phù nề. Lách mất hình dạng lưỡi liềm, giảm hồi âm, nhu mô không đồng nhất.
Hình ảnh lách lạc chỗ trên cắt lớp vi tính bụng
2. Lách phụ
Lách phụ là cấu trúc mô lách bình thường nhưng nằm ngoài lách, tạo thành do các khối lách riêng lẻ kết hợp không hoàn chỉnh trong giai đoạn bào thai. Lách phụ thường có cuống mạch nối với động mạch lách hoặc dẫn lưu về tĩnh mạch lách. 10% dân số có lách phụ, trong đó 80% nằm ở rốn lách, số còn lại ở cạnh đuôi tụy hoặc mạc treo ruột. 88% có một lách phụ, 9% có hai và 3% có nhiều hơn hai. Lách phụ thường dễ bị chẩn đoán nhầm với hạch hoặc u của đuôi tụy.
Lách phụ trên siêu âm
3. Đa lách
Các bệnh nhân đa lách thường xuất hiện trong bệnh cảnh có nhiều dị tật bẩm sinh phối hợp với sự thắng thế của bên trái đối với bên phải trong cấu trúc cơ thể. Cả hai phổi đều là phổi trái, tĩnh mạch azygos bên trái nối với tĩnh mạch chủ dưới cùng bên bị đứt đoạn, teo đường mật, không có túi mật, xoay bất toàn ống tiêu hóa và bất thường tim mạch
Hình ảnh đa lách trên chụp cắt lớp vi tính
4. Không có lách
Ngược với đa lách, ở bệnh nhân không có lách, hai bên phổi đều là phổi phải. Gan nằm giữa, động mạch chủ và tĩnh mạch chủ dưới đảo vị trí, bất thường hồi quy tĩnh mạch phổi và thận móng ngựa. Các bệnh nhân này thường suy giảm miễn dịch và dễ mắc các nhiễm trùng nặng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Phước Bảo Quân (2010) Siêu âm bụng tổng quát. Nhà xuất bản Y học
- Rumack C. M., Wilson S. R. et al (2004) Siêu âm chẩn đoán. Nhà xuất bản Y học