BỆNH VIỆN
TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC

TỔNG QUAN VỀ NỘI KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG XÉT NGHIỆM TRONG PHÒNG XÉT NGHIỆM

    Độ chính xác của các kết quả xét nghiệm là một phần rất quan trọng trong chẩn đoán và theo dõi tình trạng sức khỏe. Là căn cứ pháp lý quan trọng trong ngành y. Chính vì vậy kết quả xét nghiệm phải được tính tin cậy. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rằng kết quả xét nghiệm có thể bị sai lệch vì nhiều lý do. Sự cần thiết của việc giữ cho sai sót ở mức thấp nhất là điều quan trọng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Các phòng thí nghiệm cần phải có các biện pháp duy trình chất lượng kết quả xét nghiệm.

Trong phòng xét nghiệm, chúng tôi có 3 giai đoạn cần có sự kiểm soát:

 

1. Tiền phân tích:

Trước xét nghiệm

Chỉ định xét nghiệm

Lấy mẫu xét nghiệm

Vận chuyển mẫu

Nhận mẫu và xử lý mẫu

2. Phân tích:

Trong xét nghiệm

Thực hiện xét nghiệm

Đánh giá kết quả xét nghiệm

Diễn giải kết quả

Hóa chất, phương pháp xét nghiệm, tay nghề kỹ thuật viên

3. Hậu phân tích:

Sau xét nghiệm

Báo cáo kết quả xét nghiệm và lưu trữ

Bảo quản mẫu

 

    Tất cả các giai đoạn cần được kiểm soát một cách chặt chẽ.

   Ở giai đoạn xét nghiệm, để kiểm soát được chất lượng của kết quả xét nghiệm ta sử dụng các công cụ là nội kiểm (internal quality control-IQC) và ngoại kiểm (external quality assessment-EQA).

   Các công cụ này có khả năng theo dõi, phát hiện các sai số, sự không phù hợp xảy ra trong quá trình xét nghiệm.

   Hệ thống kiểm soát chất lượng trong phòng xét nghiệm được sử dụng để theo dõi những biến số có thể xảy ra trong quá trình xét nghiệm.

   Hệ thống kiểm soát chất lượng thông qua 3 giai doạn:

- Thiết lập giới hạn biến thiên thống kê của từng phương pháp phân tích.

- Sử dụng giới hạn như một tiêu chuẩn để đánh giá các số liệu QC của mỗi xét nghiệm.

- Thực hiện hành động khắc phục lỗi khi xảy ra:

· Tìm ra nguyên nhân gây ra lỗi.

· Thực hiện hành động khắc phục.

· Phân tích lại mẫu chứng và mẫu bệnh nhân.

   Các loại IQC thường được sử dụng:

- IQC thương mại:

· Phải có sẵn ít nhất 1 năm.

· Có bản chất giống với mẫu bệnh nhân.

· Thường sử dụng biện pháp bảo quản bằng cách đông khô.

· Có thể pha loãng đến nồng độ mong muốn hoặc bản chất giống với nước tiểu, máu, dịch não tủy.

· Phải được hòa trộn cẩn thận để tranh việc không đồng đều về nồng độ dẫn đến sai khác trong các kết quả phân tích.

· Nồng độ của QC được sử dụng phải nằm trong phạm vi phù hợp với khoản tham chiếu sinh học.

- IQC sẵn có:

· Huyết thanh gộp: được đông khô để sử dụng sau.

· Mẫu bệnh phẩm được giữ lại cũng có thể được sử dụng.

- Các tiêu chí được xem xét khi lựa chọn IQC

 

1. Chất nền

- Các cơ sở để lựa chọn:

· Có cùng hệ nền như mẫu bệnh phẩm để phản ứng giống mẫu cần xét nghiệm

· Có nguồn gốc từ người hoặc bò

2. Khả năng hoàn nguyên

- Dạng lỏng/ đông khô (dạng lỏng có khả năng kiểm soát tốt hơn).

- Nguyên liệu dùng để hoàn nguyên

- Thể tích dung môi cần sử dụng.

- Cách phối trộn

- Thời gian cần để hoàn nguyên

- Các sai khác khi chia nhỏ

(Các yếu tố trên cần được chuẩn hóa)

3. Độ ổn định

- Ngày hết hạn và độ ổn định sau khi pha chế cần được xem xét

- Lô QC này nên được có sẵn trong vòng 1 năm để phòng thí nghiệm sử dụng khoản tham chiếu riêng được dài hơn

4. Đã được phân tích hay chưa

- Mẫu QC đã được phân tích thường được sử dụng trong phòng thí nghiệm hơn chưa phân tích.

- Có giá trị công bố từ nhà sản xuất cho từng thiết bị/ phương pháp.

- Những giá trị được công bố chỉ nên được coi là hướng dẫn để phòng thí nghiệm thiết lập khoản tham chiếu QC cho riêng mình.

- Thời gian tối thiểu để phòng thí nghiệm thiết lập khoản tham chiếu cho riêng mình là 20 ngày.

- Điều kiện lý tưởng là chạy lô QC mới song song với lô cũ, các giá trị này sẽ được thiết lập trước khi đưa vào chạy thường quy.

5. Khoản tham chiếu phù hợp

- QC được sử dụng phải bao phủ phạm vi của xét nghiệm cần phân tích ở cả khoản bình thường và bệnh lý.

- Tốt nhất là nên gần khoảng tham chiếu sinh học.

- Lý tưởng là nên có từ 2 mức QC cho phân tích sinh hóa và 3 mức cho phân tích hormones và dấu chỉ ung thư.

- Các tầng suất thực hiện việc nội kiểm tra theo hướng dẫn của NABL:

· Tối thiểu của 1 mức nồng độ một lần một ngày.

· Nếu mẫu bệnh nhân > 25/ngày: 2 mức nồng độ, ít nhất một lần một ngày.

· Nếu mẫu bệnh nhân > 75/ngày: 2 mức nồng độ, ít nhất hai lần một ngày theo khoản thời gian phù hợp.

- Để phân tích các kết quả nội kiểm ta dùng các công cụ thống kê:

· Giá trị trung bình (mean):

· Độ lệch chuẩn (SD):

· Hệ số biến thiên (CV):

· Biểu đồ Levey-Jennings biểu diễn các giá trị QC quan sát theo thời gian.

· Kết hợp biểu đồ Levey-Jennings với các quy tắc của Westgard để tìm ra các lỗi trong quá trình xét nghiệm (12S, 13S, 22S,R4S,41S,10X,7T)

Lỗi hệ thống

Lỗi ngẫu nhiên

- Sai số hệ thống được phát hiện bằng sự thay đổi trong giá trị trung bình của kết quả QC.

- Sự thay đổi diễn ra dần dần và được thể hiện như một xu hướng trong các kết quả QC hoặc xảy ra đột ngột như một sự thay đối trong kết quả QC.

- Lỗi ngẫu nhiên là bất cứ sai lệch nào so với kết quả mong đợi.

- Sai số ngẫu nhiên có thể chấp nhận được xác định và đo lường bằng độ lệch chuẩn.

- Sai số ngẫu nhiên không thể chấp nhận là bất cứ kết quả nào nằm ngoài giá trị kết quả mong muốn.

- Sai số hệ thống là lỗi luôn theo một hướng làm dịch chuyển giá trị trung bình của phân phối ra khỏi giá trị ban đầu làm cho kết quả cao hoặc thấp.

- Sai số ngẫu nhiên có thể lớn hoặc nhỏ hơn giá trị trung bình, không thể dự đoán được xu thế khi thực hiện các phép đo lặp lại trên cùng một mẫu.

Nguyên nhân:

- Sự giảm chất lượng của mẫu chuẩn hoặc quá trình hiệu chuẩn.

- Sự giảm chất lượng của mẫu chứng.

- Sự giảm chất lượng của thuốc thử.

Nguyên nhân:

- Lỗi pipet.

- Lỗi về nhiệt độ.

- Lỗi về pha trộn hóa chất.

- Lỗi thiết bị.

- 22S, 41S và 10X thường liên quan tới lỗi hệ thống.

- 13S và R4S thường liên quan tới lỗi ngẫu nghiên.

Việc kiểm soát chất lượng trong quá trình xét nghiệm được kết hợp từ quá trình thực hiện nội kiểm và ngoại kiểm một cách bài bản và có quy trình kiểm soát. Lợi ích của quá trình này giúp cho kết quả xét nghiệm được chính xác và có thể tin tưởng. Tránh được các hậu quả không mong muốn từ kết quả xét nghiệm kém chất lượng như thiếu các hành động phù hợp trong điều trị và phát hiện các bất thường trong sức khỏe của bệnh nhân và người có nhu cầu xét nghiệm.

Dịch và trình bày lại từ bài giảng về nội kiểm tra chất lượng của Dr.Rajeev Ranjan

https://www.slideshare.net/slideshow/iqc-internal-quality-controlpptx/252922555#4

 

CN. Nguyễn Huy Quỳnh

TIN KHÁC